Các loại hình doanh nghiệp chính của Việt Nam

0
79

Khi bạn muốn thành lập doanh nghiệp để thực hiện ý tưởng kinh doanh của bản thân. Việc đầu tiên bạn phải làm là tìm cho mình một loại hình doanh nghiệp sao cho phù hợp với khả năng của mình và ý tưởng kinh doanh định phát triển. Hiện nay nước ta có 07 loại hình doanh nghiệp chính sau đây:

Cac-loai-hinh-doanh-nghiep-chinh-cua-Viet-Nam
Các loại hình doanh nghiệp chính của Việt Nam

1. Doanh nghiệp nhà nước:

Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhà nước quản lý toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là một loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân đầy đủ cả 04 yếu tố chính của bộ luật dân sự tại điều số 84 được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hợp pháp có yếu tố cá nhân hợp pháp có cơ cấu chặt chẽ và đươc tham gia vào tất cả các hoạt động pháp luật độc lập, được quản lý bởi vốn nhà nước. Hiện nay các doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân được nhà nước giao cho vốn kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong công việc quản lý sản xuất, chịu trách nhiệm về kinh tế và chịu bù đắp hay hưởng lợi nhuận với mức vốn được cấp đó. Tức là hiện nay nhà nước sẽ không còn bao cấp bù lỗ như trước đây nữa mà các doanh nghiệp phải tự bù đắp các chi phí, tự trang trải mọi nguồn vốn đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ với nhà nước xã hội như các loại hình doanh nghiệp khác.Các hình thức doanh nghiệp nhà nước có thể thành lập bao gồm: Công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên.

2. Doanh nghiệp tư nhân:

Đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân tự đứng lên xây dựng, tự làm chủ và tự chịu trách nhiệm với pháp luật về các hoạt động kinh doanh cũng như tài sản của doanh nghiệp và phải chịu một số giới hạn so với loại hình doanh nghiệp nhà nước :Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ 01 loại chứng khoán nào hết. Mỗi 01 cá nhân chỉ được phép thành lập 01 doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiêp tư nhân và cá nhân là người có thể trực tiếp đứng lên tự điều hành trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và phải chịu toàn bộ trách nhiệm với các khoản nợ cũng như lãi xuất của doanh nghiệp đó. Vốn của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tư nhân tự khai, người chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ khai báo chính xác tổng số vốn đầu tư và nêu rõ: số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác. Đối với số vốn bằng tài sản khác cũng phải ghi rõ loại tài sản, số lượng, giá trị còn lại của mỗi loại tài sản đó. Toàn bộ số vốn và tài sản, kể cả số vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân đều phải được ghi chép đầy đủ chính xác vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp tư nhân. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự quyết định tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng, giảm vốn đầu tư của của chủ doanh nghiệp tư nhân phải được ghi chép vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn so với vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn với mọi khoản nợ của doanh nghiệp. Có nghĩa là chủ người chủ doanh nghiệp có trách nhiệm chịu toàn bộ các tài sản của mình trong kinh doanh lẫn ngoài kinh doanh của doanh nghiệp đó và doanh nghiệp tư nhân không đươc phát hành chứng khoán để huy động vốn trong kinh doanh và các doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.

3. Hợp Tác Xã :

Đây là một loại hình tổ chức tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu cùng góp vốn xây dựng và cùng góp sức lập ra theo điều số 01 của bộ luật hợp tác xã năm 2003: đây được xem là một tổ chức doanh nghiệp mục tiêu lợi nhuận dễ dàng đạt được hơn khi có nhiều cá nhân góp vốn chung, góp sức tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Hợp tác xã được thành lập để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi và các nghĩa vụ như tất cả mọi loại hình doanh nghiệp khác. Đối với cá nhân phải là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Cán bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với tư cách là xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nhưng không được trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hợp tác xã, hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung cùng đóng góp công sức để họat động kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia. Đối với pháp nhân, pháp nhân có thể trở thành xã viên của hợp tác xã theo quy định của Điều lệ hợp tác xã. Khi tham gia hợp tác xã, pháp nhân phải cử người đại diện có đủ điều kiện như đối với các cá nhân khác tham gia. Người lao động tham gia hợp tác xã vừa góp vốn vừa góp sức.

Góp vốn là việc xã viên Hợp tác xã khi tham gia hợp tác xã phải góp vốn tối thiểu là số tiền hoặc giá trị tài sản, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu các phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật và các loại giấy tờ có giá trị khác được quy ra tiền mà xã viên bắt buộc phải góp vốn khi gia nhập hợp tác xã.

Góp sức là việc xã viên tham gia xây dựng hợp tác xã dưới các hình thức trực tiếp quản lý, lao động sản xuất, kinh doanh, tư vấn và các hình thức tham gia khác.

4. Công ty cổ phần :

Đây là loại hình doanh nghiệp có Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Theo điều số 77 của Luật doanh nghiệp.Cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp các cổ đông có thể bán các cổ phần hoặc chuyển nhượng cổ phần của mình cho các thành viên hay các cá nhân khác. Số lượng cổ đông phải bao gồm ít nhất là 03 cổ đông và không hạn chế số cổ đông. Cổ đông có thể là một  tổ chức, một cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa. Công ty cổ phần có quyền được phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần. Mỗi cổ phần được thể hiện dưới dạng văn bản chứng trỉ do công ty phát hành bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty gọi là cổ phiếu. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hay nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng việc mua cổ phần. Mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Thành viên trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có ba thành viên tham gia công ty cổ phần. Về trách nhiệm của công ty. Công ty cổ phần phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp vào công ty (đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu).

Công ty cổ phần là có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác để huy động vốn. Cuối cùng là chuyển nhượng phần vốn góp (cổ phần). Cổ phần của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu của công ty cổ phần được coi là hàng hoá, được phép mua, bán, chuyển nhượng tự do theo quy định của pháp luật.

5. Công ty trách nhiệm hữu hạn:

Đây là loại hình doanh nghiệp được phổ biến nhất hiện nay và được chia thành 02 loại: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên và công ty TNHH 1 thành viên.

Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên thuộc điều số 38 của luật doanh nghiệp là doanh nghiệp trong đó có Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên công ty không được vượt quá 50. Thành viên công ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 43,44,45 của Luật Doanh nghiệp. Công ty TNHH có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp giấy phép kinh doanh: Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phần, về vốn của công ty. Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng hoặc không bằng nhau. Công ty TNHH 2 thành trở lên chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty, các thành viên công ty chịu trách nhiệm về với các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty. Về thành viên của công ty. Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có từ 2 thành viên và tối đa không vượt quá 50 thành viên tham gia công ty. Về phát hành chứng khoán. Công ty TNHH 2 thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn. Phần vốn góp của các thành viên công ty được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.

Đối với công ty TNHH 1 thành viên (Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005), là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty phải chịu trách nhiệm với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty TNHH 1 thành viên không được phép phát hành cổ phần. Đặc điểm của công ty TNHH 1 thành viên: về chủ sở hữu công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu.

Công ty TNHH 1 thành viên là tổ chức có tư cách pháp nhân và phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ. Về phát hành chứng khoán. Công ty TNHH 1 thành viên không được phát hành cổ phần để huy động góp vốn trong kinh doanh. Về chuyển nhượng vốn góp. Việc chuyển nhượng vốn góp phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

6. Công ty hợp danh:

Đây là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân trong đó có các cá nhân và thương nhân cùng hoạt động lĩnh vực thương mại dưới một hãng và cùng nhau chịu mọi trách nhiệm về các khoản nợ của công ty. Công ty hợp danh ở nước ta hiện nay có một số quan điểm khác với cách hiểu truyền thống về công ty hợp danh. Theo đó công ty hợp danh được định nghĩa là một loại hình doanh nghiệp, với những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:

Phải có ít nhất từ 2 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); Ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn;

Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình với các nghĩa vụ của công ty;

Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm với các khoản nợ của công ty bằng với số vốn đã góp vào công ty;

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

Trong quá trình hoạt động, công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Như vậy, nếu căn cứ vào các tính chất thành viên và chế độ chịu trách nhiệm tài sản, thì công hợp danh theo Luật Doanh nghiệp có thể được chia thành 2 loại:

– Loại thứ 1: là những công ty giống với công ty hợp danh theo pháp luật các nước, tức là chỉ bao gồm những thành viên hợp danh (chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty);

– Loại thứ 2: là những công ty có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn (chịu trách nhiệm hữu hạn) và cũng là một loại hình của công ty đối nhân.

Có thể thấy, khái niệm công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam có nội hàm của khái niệm công ty đối nhân theo pháp luật các nước. Với quy định về công ty hợp danh, Luật Doanh nghiệp đã ghi nhận sự tồn tại của các công ty đối nhân ở Việt Nam.

Các thành viên trong công ty hợp danh bao gồm : các thành viên hợp danh trong đó phải có ít nhất 2 thành viên và thành viên đó là 1 cá nhân. Trách nhiệm tài sản của các thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty là trách nhiệm vô hạn và liên đới. Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ của công ty đối với chủ nợ. Mặt khác, các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình (tài sản đầu tư vào kinh doanh và tài sản dân sự) và tuân theo những điều lệ trong luật doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty hợp danh có quyền tiếp nhận thêm các thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn mới. Việc tiếp nhận thêm thành viên phải được Hội đồng thành viên chấp thuận. Thành viên hợp danh mới được tiếp nhận vào công ty phải cùng chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty (trừ khi có thoả thuận khác).

Tư cách thành viên công ty của thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

– Đối Với Thành viên chết hoặc bị toà án tuyên bố là đã chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự;

– Đối với Tự nguyện rút khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty. Khi tự nguyện rút khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên, thành viên hợp danh vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ của công ty đã phát sinh trước khi đăng ký việc chấm dứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh. Công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Là thành viên của công ty đối nhân, nhưng thành viên góp vốn hưởng chế độ trách nhiệm tài sản như một thành viên của công ty đối vốn. Chính điều này là lý do cơ bản dẫn đến thành viên góp vốn có thân phận pháp lý khác với thành viên hợp danh. Bên cạnh những thuận lợi được hưởng từ chế độ trách nhiệm hữu hạn, thành viên góp vốn bị hạn chế những quyền cơ bản của một thành viên công ty. Thành viên góp vốn không được tham gia vào công việc quản lý của công ty, không được hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa của công ty. Pháp luật nhiều nước còn quy định nếu thành viên góp vốn hoạt động kinh doanh nhân danh công ty thì sẽ mất quyền chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty. Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của thành viên góp vốn được quy định trong Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty.

7. Công ty liên doanh :

Đây là loại hình doanh nghiệp công ty do 2 hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Việt Nam. Đây là loại hình doanh nghiệp do các bên tổ chức hợp thành.

Trên đấy là những loại hình doanh nghiệp của Việt Nam, các bạn hãy tìm hiểu để có thể chọn cho mình 1 loại hình doanh nghiệp phù hợp nhất. Chúc các bạn thành công!

Các loại hình doanh nghiệp chính của Việt Nam
5 (100%) 1 vote

Gửi Bình Luận

avatar
wpDiscuz