Quy định công bố mỹ phẩm của pháp luật hiện hành

0
10

Trước khi đưa sản phẩm ra lưu hành trên thị trường. Tổ chức, cá nhân này chỉ được phép đưa sản phẩm ra thị trường sau khi đã công bố và được tiếp nhận (có số tiếp nhận bản công bố mỹ phẩm) của Cục Quản lý dược Việt Nam và chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính an toàn, hiệu quả của sản phẩm mỹ phẩm đưa ra thị trường và phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 06/2011/TT-BYT quy định về quản lý mỹ phẩm xác định Sản phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thể con người với mục đích chính là để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt.

Điều 3 Thông tư này quy định về thủ tục công bố mỹ phẩm xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân- các chủ thể chịu trách nhiệm đưa sản phẩm mỹ phẩm ra thị trường chỉ được phép đưa mỹ phẩm ra lưu thông khi đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính an toàn, hiệu quả và chất lượng sản phẩm. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra hậu mại khi sản phẩm lưu thông trên thị trường. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường phải có chức năng kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam.

quy định công bố mỹ phẩm

Hồ sơ công bố mỹ phẩm bao gồm:

– Phiếu công bố mỹ phẩm (02 bản) kèm theo dữ liệu công bố ;

– Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường (có chữ ký và đóng dấu của doanh nghiệp). Trường hợp mỹ phẩm sản xuất trong nước mà tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường không phải là nhà sản xuất thì phải có bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của nhà sản xuất (có chứng thực hợp lệ);

– Bản chính hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ Giấy ủy quyền của nhà sản xuất hoặc chủ sở hữu sản phẩm ủy quyền cho tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường được phân phối sản phẩm mỹ phẩm tại Việt Nam. Đối với sản phẩm nhập khẩu thì Giấy uỷ quyền phải là bản có chứng thực chữ ký và được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hoá lãnh sự theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Giấy uỷ quyền phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 6 Thông tư này.

– Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS): Chỉ áp dụng đối với trường hợp công bố mỹ phẩm nhập khẩu và đáp ứng các yêu cầu sau: a) CFS do nước sở tại cấp là bản chính hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ, còn hạn. Trường hợp CFS không nêu thời hạn thì phải là bản được cấp trong vòng 24 tháng kể từ ngày cấp.

Thủ tục công bố mỹ phẩm hướng đến việc tạo ra một tiêu chuẩn chung cho các nước thành viên ASEAN trong việc quản lý lưu hành sản phẩm mỹ phẩm. Từ đó, các sản phẩm mỹ phẩm được công nhận chất lượng tại một nước sẽ được chấp nhận lưu hành cho các nước còn lại. Vậy nên, mặc dù mỹ phẩm đã được công bố tiêu chuẩn chất lượng nhưng hồ sơ đối với việc công bố lưu hành mỹ phẩm vẫn bắt buộc phải tiến hành các yêu cầu khác về đánh giá chất lượng mỹ phẩm.

Quy định công bố mỹ phẩm của pháp luật hiện hành
5 (100%) 1 vote

TƯ VẤN MIỄN PHÍ GỌI NGAY: 0945 292 808 – 0978 635 623

LUẬT VIỆT TÍN CỐ VẤN PHÁP LÝ TỐT NHẤT CỦA BẠN

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here