Quy định của pháp luật về giả mạo chữ ký

0
137

Trong đời sống, hoạt động kinh doanh,  khi cần xác nhận giấy tờ, tài liệu xác nhận của cá nhân, tài liệu của cơ quan, tổ chức thì sẽ phải sử dụng chữ ký. Nhưng nhiều người vì những mục đích khác nhau như vụ lợi,  lừa đảo,… lại giả mạo chữ ký của người khác, hoặc chữ ký của cấp trên gây khó khăn trong công tác quản lý cũng như thiệt hại cho nhiều người liên quan.

Vấn đề giả mạo chữ ký của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm thì sẽ chịu những chế tài theo quy định của pháp luật khác nhau. Bài viết này, Luật Việt Tín xin chia sẻ các quy định liên quan đến vấn đề giả mạo chữ ký.

Trên thực tế, hành vi giả mạo chữ ký của người khác diễn ra rất thường xuyên, có những trường hợp giả mạo chữ ký không gây ra thiệt hại gì cho người khác, nhưng cũng có những trường hợp giả mạo chữ ký do những động cơ nhất định, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người khác, tùy theo từng trường hợp giả mạo chữ ký, từng lĩnh vực cụ thể mà pháp luật quy định tại nhiều văn bản khác nhau.

Những quy định của pháp luật về giả mạo chữ ký

Như theo quy định tại Điều 359  Bộ Luật Hình sự về tội giả mạo trong công tác thì người nào vì vụ lợi mà giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm có thể bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Như vậy, nếu như giả mạo chữ ký của những người có thầm quyền trong cơ quan nhà nước thì sẽ bị phạt mức tù như nêu trên. Nhưng việc giả mạo chữ ký này phải thuộc vào phạm vi, quyền hạn của người đó khi ký tá các loại giấy tờ này thì mới vi phạm Điều 359, còn nếu như giả chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn nhưng ký các loại giấy tờ không nằm trong thẩm quyền ký của họ thì sẽ không vi phạm quy định nêu trên, mà khhi đó sẽ tùy vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà đưa ra căn cứ pháp luật áp dụng cho hành vi đó.

Ngoài ra, việc giả mạo chữ ký của người khác để thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 của Bộ luật hình sự 2015 về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Tùy vào mức độ vi phạm do hành vi giả mạo chữ ký gây ra sẽ  có các mức phạt khác nhau:

– Phạt cải tạo không giam giữ 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: Khi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đến 50 triệu đồng. Hoặc dưới 2 triệu nhưng có các tình tiết tăng nặng như sau:

+ Tái phạm hành vi chiếm đoạt tài sản đã bị xử lý hành chính;

+Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tính mà lại tiếp tục vi phạm;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội;

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

– Phạt tù từ 2 đến 7 năm: Khi phạm tội có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ quyền hạn, danh nghĩa của cơ quan tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Chiếm đoạt tài sản từ 2 triệu đến dưới 50 triệu nhưng có những hành vi nguy hiểm thuộc trường hợp tăng nặng như trường hợp Phạt cải tạo không giam giữ 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

– Phạt tù từ 7 đến 15 năm: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đến dưới 500 triệu; hoặc chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng thuộc một trong các tình tiết tăng nặng nêu trên; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

– Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc chung thân: Chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 500 triệu; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đến dưới 500 triệu nhưng thuộc một trong các trường hợp tăng năng  nêu trên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Như vậy, nêu như việc giả mạo chữ ký dẫn đến vi phạm các quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ căn cứ vào mức độ hành vi, cũng như thiệt hại gây ra cho người bị hại, hoặc cơ quan, tổ chức liên quan.

Không chỉ trong quy định của Bộ Luật hình sự, mà trong quy định của rất nhiều các văn bản pháp luật chuyên ngành khác cũng có quy định về vấn đề giả mạo chữ ký cũng như các chế tài xử lý vi phạm đối với những hành vi đó:

– Điều 19, Nghị định 131/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả cũng có quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với việc giả mạo chữ ký của tác giả. Mức phạt tiền trong trường hợp vi phạm này là từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

– Theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định 39/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung của Nghị định 185/2004/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế toán cũng có quy định về hành vi giả mạo chứng từ kế toán trong đó có giả mạo chữ ký của người có thẩm quyền ký sẽ bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Bên cạnh các chế tài nêu trên thì trong từng trường hợp cụ thể thì người giả mạo chữ ký của người khác sẽ có thể bị tước thẻ hành nghề, hoặc cấm đảm nhiệm công việc, chức vụ, hay cấm hành nghề trong một thời gian nhất định từ 1 đến 5 năm.

Nếu hành vi giả mạo chữ ký chỉ ở mức vi phạm nhẹ thì nếu bị phát hiện chỉ bị xử lý vi phạm hành chính là phạt cảnh cáo, hoặc phạt tiền. Tuy nhiên, trong những trường hợp gây ra những hậu quả nghiêm trọng thì rất có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Không thể viện lý do là vô ý, hay không nghĩ đến mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Vì trong những trường hợp giả mạo chữ ký này thì sẽ có mục đích là lừa dối người khác, và có vì động cơ vụ lợi hay không thì tùy trường hợp. Do đó, không thể nói là người giả mạo chữ ký vô ý được, trong những trường hợp đó, người giả mạo chữ ký phải biết và buộc phải biết về hành vi giả mạo chữ ký của mình là vi phạm pháp luật.

Quy định của pháp luật về giả mạo chữ ký
Đánh giá bài viết

Gửi Bình Luận

avatar