Doanh nghiệp không trả được nợ có thể thực hiện giải thể

0
34

Sáng 25-5, Quốc hội nghe tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính – Ngân sách về dự án Luật Quản lý nợ công (sửa đổi).

Không tính nợ doanh nghiệp nhà nước vào nợ công

Theo Chính phủ, sau 07 năm triển khai và thực hiện, Luật Quản lý nợ công đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước.

Đó là: huy động vốn trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ giai đoạn trong năm 2010 -2016 đạt hơn 1.277.000 tỷ đồng (tốc độ tăng trưởng bình quân 36%/năm), đảm bảo cân đối nguồn ngân sách và nguồn vốn cho đầu tư công trình kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục; giai đoạn trong năm 2010 – 2016, tổng giá trị cam kết ODA, vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài đạt gần 36,6 tỷ USD, trong đó đã giải ngân được gần 32,8 tỷ USD để tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo; giai đoạn trong năm 2010 – 2016, tổng giá trị cấp bảo lãnh Chính phủ đạt 632.800 tỷ đồng; công tác quản lý nợ chặt chẽ, đảm bảo trả nợ trong và ngoài nước của Chính phủ được đảm bảo trong giới hạn an toàn mà Quốc hội phê duyệt (đến cuối năm 2016, ước tỷ lệ nợ công/GDP ở mức 63,7% GDP, nợ của Chính phủ ở mức 52,6% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 44,3% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là 14,8% tổng thu ngân sách)…

Doanh-nghiep-khong-tra-duoc-no-co-the-thuc-hien-giai-the
Doanh nghiệp không trả được nợ có thể thực hiện giải thể

Tuy vậy, sau 07 năm, bộ luật này đã bộc lộ một số bất cập như: chưa phân định được rõ ràng và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa quản lý nợ công, quản lý ngân sách và quản lý đầu tư công; dẫn đến nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ trong ngắn hạn lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ…

Điểm quan trọng, xuyên suốt dự thảo đã có những quy định chặt chẽ, gắn trách nhiệm trong quản lý, điều hành nợ công trong bối cảnh hiện nay đang trở nên cấp bách để cải thiện bức tranh về nợ công hiện nay.

Trong đó, dự thảo đã bổ sung thêm 04 điều khoản mới quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan như: Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp, Kiểm toán Nhà nước. Trong đó, Kiểm toán Nhà nước sẽ phải thực hiện kiểm toán hàng năm về huy động, phân bổ, sử dụng nguồn vốn vay của các chương trình, dự án và quản lý nợ công, báo cáo Quốc hội; thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm, kiểm toán chuyên đề theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội…

Bên cạnh đó, dự thảo cũng bổ sung thêm quy định về giám sát và sử dụng nợ công để đảm bảo việc huy động, phân bổ, sử dụng nợ công đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình. Đồng thời bổ sung quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng nợ công và trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra các vi phạm.

Về cho vay lại, dự thảo đã quy định chặt chẽ hơn điều kiện này, bao gồm: tình hình tài chính lành mạnh, không bị lỗ trong 03 năm liền kề; nợ quá hạn không quá 5%; không có nợ quá hạn liên quan đến các khoản vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ; tổng mức dư nợ vay lại chịu rủi ro tín dụng không được vượt quá 15% vốn chủ sở hữu thực có của từng tổ chức tài chính – tín dụng tại thời điểm xem xét cho vay lại; được ít nhất 01 trong số các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế (như Standard and Poor’s, Moody’s, Fitch) xếp hạng tín nhiệm ở mức tín nhiệm ngang bằng hoặc thấp hơn 01 bậc so với xếp hạng tín nhiệm quốc gia…

Một trong những điểm được dư luận quan tâm lâu nay là nợ của doanh nghiệp nhà nước có được tính vào nợ công hay không?

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, theo hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới, chỉ tính nợ tự vay tự trả của doanh nghiệp nhà nước vào nợ công nếu thỏa mãn đồng thời 03 điều kiện sau: Chính phủ sở hữu trên 50% vốn của doanh nghiệp; hoạt động thu, chi của doanh nghiệp nhà nước được kết cấu trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; và Chính phủ cam kết trả nợ thay trong trường hợp các doanh nghiệp mất khả năng trả nợ.

Đối với Việt Nam, các khoản từ các doanh nghiệp nhà nước vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ và các khoản vay của doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh đã được tính trong nợ công theo quy định của luật (tính trong nợ Chính phủ và nợ Chính phủ bảo lãnh).

Đối với những khoản vay theo cơ chế tự vay tự trả, doanh nghiệp nhà nước là công ty TNHH một thành viên, hoạt động bình đẳng như các doanh nghiệp khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và hoạt động thu chi không gắn với dự toán ngân sách. Các nhiệm vụ được Nhà nước giao sẽ thực hiện thông qua đặt hàng hoặc tính vào giá, phí.

Ngoài ra, công tác huy động và sử dụng nguồn vốn vay của các doanh nghiệp nhà nước còn phải chịu quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2014.

Trường hợp doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn trong việc trả nợ vay lại, nợ được Chính phủ bảo lãnh thì sẽ xử lý theo đúng quy định của Luật Quản lý nợ công.

Đối với các khoản nợ tự vay tự trả, nếu gặp khó khăn thì xử lý theo đúng quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

Theo đó: “doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn vay đúng mục đích, tự chịu mọi rủi ro và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình huy động, quản lý, sử dụng vốn vay và trả nợ đúng hạn. Nhà nước không chịu trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ do doanh nghiệp trực tiếp vay, trừ các khoản vay đã được Chính phủ bảo lãnh”.

Hơn nữa, trường hợp doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn về trả nợ thì phải xử lý theo quy định của Luật Phá sản và tiến hành giải thể công ty bình đẳng như đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác.

Cần thống nhất đầu mối quản lý

Theo dự thảo, nhiệm vụ, quyền hạn của một số bộ, ngành được quy định theo hướng: Bộ Tài chính là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất và quản lý nhà nước về nợ công; Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước đối với những nguồn vốn ODA, vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài, làm đầu mối vận động, ký kết hiệp định khung; Ngân hàng Nhà nước chủ trì đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế…

Thẩm tra về nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải, cho biết, nhiều ý kiến trong Ủy ban đề nghị quy định theo hướng chỉ giao cho một cơ quan là đầu mối thống nhất theo sự phân công và chỉ đạo của Chính phủ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nợ công, trong đó đã bao gồm cả chức năng quản lý nhà nước đối với nguồn vốn ODA, vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài, làm đầu mối thống nhất vận động, đàm phán hiệp định khung, hiệp định vay, phân bổ, sử dụng vốn, trả nợ vay… vì quy định như dự thảo luật chưa phù hợp với yêu cầu đặt ra trong Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 18-11-2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.

Trong đó, Nghị quyết 07 yêu cầu phải bảo đảm tập trung thống nhất trong quản lý về nợ công nhằm sớm khắc phục tình trạng “quản lý đầu tư công, nợ công còn chồng chéo, chưa gắn trách nhiệm cân đối ngân sách, vay và trả nợ với phân bổ, sử dụng vốn”.

Chính vì vậy, việc quy định nhiều cơ quan cùng là đầu mối quản lý nợ công như hiện nay là chưa đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính và sẽ chưa khắc phục được các hạn chế đang diễn ra trên thực tế khi nhiều cơ quan cùng quản lý nợ công ở các công đoạn khác nhau, dẫn đến tình trạng quản lý phân tán, việc phối hợp chưa chặt chẽ nên công tác theo dõi, tổng hợp báo cáo, quyết toán, thống kê, đặc biệt việc xác định trách nhiệm vay, trả nợ, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay, bố trí vốn đối ứng còn khó khăn, bất cập. Thông lệ tốt được nhiều nước trên thế giới đã và đang thực hiện là quy định rõ một đầu mối quản lý tập trung, thống nhất nguồn lực nợ công.

Doanh nghiệp không trả được nợ có thể thực hiện giải thể
Đánh giá bài viết

Gửi Bình Luận

avatar
wpDiscuz