QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT HÀNH VI BÁN THỰC PHẨM KHÔNG AN TOÀN CHO TRẺ EM NĂM 2026.

Sức khỏe của trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, luôn được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt qua các chế tài chặt chẽ. Việc kinh doanh và cung cấp các sản phẩm, đặc biệt là thực phẩm, phải tuân thủ tuyệt đối các tiêu chuẩn về an toàn. Hành vi bán thực phẩm không bảo đảm an toàn cho trẻ em không chỉ gây nguy hại đến sự phát triển của trẻ mà còn phải đối mặt với những hình phạt hành chính . Hãy cùng Việt Tín tìm hiểu vấn đề này nhé!

I. Bán thực phẩm không bảo đảm an toàn cho trẻ em bị phạt bao nhiêu tiền?

Bán thực phẩm không bảo đảm an toàn cho trẻ em bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Mức phạt tiền đối với tổ chức gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Chi tiết mức phạt vi phạm quy định về cấm bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em; vi phạm quy định về cung cấp sản phẩm, dịch vụ an toàn, thân thiện với trẻ em mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 30 Nghị định 98/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:

– Mức phạt tiền hình thức chính: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    • Cung cấp sản phẩm, dịch vụ không an toàn, gây tổn hại cho trẻ em;
    • Bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em;
    • Cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.

– Hình thức xử phạt bổ sung:

    • Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại phần mức phạt tiền hình thức chính nêu trên;
    • Đình chỉ có thời hạn một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh liên quan đến hành vi vi phạm trong thời gian từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 Nghị định 98/2026/NĐ-CP.

– Biện pháp khắc phục hậu quả:

    • Buộc tiêu hủy hàng hoá, vật phẩm đối với hành vi vi phạm quy định tại phần mức phạt tiền hình thức chính nêu trên;
    • Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em đối với hành vi vi phạm quy định tại phần mức phạt tiền hình thức chính nêu trên mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
    • Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại phần mức phạt tiền hình thức chính nêu trên.

Mức phạt tiền quy định nêu trên là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân. (Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2026/NĐ-CP).

II. Thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định tại Điều 55 Luật An toàn thực phẩm 2010, cụ thể như sau:

– Các trường hợp thực phẩm phải được thu hồi:

    • Thực phẩm hết thời hạn sử dụng mà vẫn bán trên thị trường;
    • Thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;
    • Thực phẩm là sản phẩm công nghệ mới chưa được phép lưu hành;
    • Thực phẩm bị hư hỏng trong quá trình bảo quản, vận chuyển, kinh doanh;
    • Thực phẩm có chất cấm sử dụng hoặc xuất hiện tác nhân gây ô nhiễm vượt mức giới hạn quy định;
    • Thực phẩm nhập khẩu bị cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu, nước khác hoặc tổ chức quốc tế thông báo có chứa tác nhân gây ô nhiễm gây hại đến sức khoẻ, tính mạng con người.

– Các hình thức thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn:

    • Thu hồi tự nguyện do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm tự thực hiện;
    • Thu hồi bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn.

– Các hình thức xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn bao gồm:

    • Khắc phục lỗi của sản phẩm, lỗi ghi nhãn;
    • Chuyển mục đích sử dụng;
    • Tái xuất;
    • Tiêu hủy.

– Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm:

    • Có trách nhiệm công bố thông tin về sản phẩm bị thu hồi và chịu trách nhiệm thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn trong thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; chịu mọi chi phí cho việc thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn.
    • Trong trường hợp quá thời hạn thu hồi mà tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm không thực hiện việc thu hồi thì bị cưỡng chế thu hồi theo quy định của pháp luật.

– Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

    • Căn cứ vào mức độ vi phạm về điều kiện bảo đảm an toàn, quyết định việc thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn, thời hạn hoàn thành việc thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn;
    • Kiểm tra việc thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn;
    • Xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm theo thẩm quyền do pháp luật quy định;
    • Trong trường hợp thực phẩm có nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng hoặc các trường hợp khẩn cấp khác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp tổ chức thu hồi, xử lý thực phẩm và yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn thanh toán chi phí cho việc thu hồi, xử lý thực phẩm.

– Thẩm quyền quy định chi tiết:

    • Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương quy định cụ thể việc thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

III. Quản lý an toàn thực phẩm theo nguyên tắc nào?

Nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm được quy định tại Điều 3 Luật An toàn thực phẩm 2010, gồm:

  1. Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
  2. Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh.
  3. Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng.
  4. Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm.
  5. Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành.
  6. Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Tóm lại, việc bảo đảm an toàn thực phẩm, đặc biệt là đối với đối tượng trẻ em, không chỉ dựa vào ý thức tự giác của các cơ sở kinh doanh mà còn được ràng buộc chặt chẽ bởi các chế tài pháp lý hiện hành từ Luật An toàn thực phẩm 2010 và Nghị định 98/2026/NĐ-CP. Các mức phạt tiền nghiêm khắc, hình thức xử phạt bổ sung kết hợp với các biện pháp thu hồi, tiêu hủy nghiêm ngặt chính là lá chắn pháp lý vững chắc nhằm ngăn chặn các thực phẩm độc hại lưu hành .

Có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ lại để được tư vấn cụ thể!

(Hotline: 0972 859 311)

guest
0 Bình luận
cũ nhất
mới nhất