Tranh cãi từ nghị định 38, nên hay không nên công bố hợp quy?

0
11

Tại các quốc gia trên thế giới thực phẩm trong thủ tục công bố thực phẩm đã ba chế biến bao gói sẵn không phải tiến hành công bố hợp quy như tại Viêt Nam mà chỉ cần tiến hành công tác quản lý nhà nước dựa trên 2 hoat động chính là kiểm tra điều kiện sản xuất và kiểm soát rủi ro theo từng loại sản phẩm, vùng, miền, thời gian cụ thể theo quy định của pháp luật. có thể nhận thấy các quốc gia này quản lý an toàn thực phảm tập trung hướng đến kiểm soát quá trình sản xuất là chính. Còn việc kiểm tra thành phẩm cuối cùng là hoạt động tự giám sát chất lượng của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước chỉ tiến hành thẩm tra, kiểm soát rủi ro. Còn ở Việt Nam lại tiến hành quản lý theo hướng kiêm tra tất các các loại thực phẩm trên tất cả các chỉ tiêu, không tính đến kiểm soát rủi ro. Có thể  nhận thấy việc thực hiện công bố hợp quy tại Việt Nam là thủ tục không cần thiết đối với với các sản phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn vì Việt Nam đã ký kết FTA hoặc đã có những sự công nhận các giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật hoặc chứng thư an toàn thực phẩm. Đặc biệt, đối với các thực phẩm nhập khẩu từ các nước có mức độ an toàn thực phẩm cao như EU, Mỹ, Úc, New Zealand, Canada và Nhật Bản… thì thủ tục công bố hợp quy trong công bố thực phẩm nhập khẩu không còn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Cùng với đó Nghị định 38/2012 cũng quy định không đúng về cách hiểu công bố hợp quy. Theo đó công bố hợp quy là được hiểu là việc tổ chức, cá nhân tự công bố sản phẩm của mình phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm phải tự chịu trách nhiệm về việc công bố đó. Họ phải nộp hồ sơ đăng ký công bố hợp quy và cơ quan thẩm quyền thực hiện tiếp nhận và trả kết quả bằng hình thức “Thông báo tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy”. Tuy nhiên, có thể nhận thấy Nghị định 38/2012/NĐ-CP đang quy định thủ tục đăng ký công bố hợp quy của các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm có liên quan với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp, cấp lại, cấp đổi “Giấy Tiếp nhận bản công bố hợp quy” có quy trình và tính chất như một hình thức cấp “Giấy phép con”. Văn bản này đã đưa ra yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm phải gửi mẫu đi kiểm nghiệm định kỳ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền 2 lần/năm, đối với cơ sở có chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GMP, HACCP, ISO 22000) là 1 lần/năm, kể cả các mặt hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác trên thế giới đã được kiểm tra nhà nước khi nhập khẩu. Quy định này gây tốn kém cho doanh nghiệp nhưng không thay thế được hậu kiểm và không đảm bảo tính khách quan. Dưới góc nhìn của những chuyên gia tư vấn nghiên cứu trong vấn đề công bố thực phẩm nhập khẩu và nội địa có thể nhận thấy Nghị định 38/2012 đã biến việc công bố giấy phép an toàn thực phẩm hoàn toàn là thủ tục hành chính, không đánh giá được sản phẩm có an toàn cho người sử dụng hay không, thực chất là một cơ chế ‘xin-cho’ chứ không thể hiện được vai trò quản lý của nhà nước với tình hình an toàn thực phẩm.

Tranh cãi tiếp theo mà chúng ta có thể nhận thấy là việc quy định doanh nghiệp kinh doanh sản phảm phải tiến hành công bố hợp quy nhưng phải tự chịu trách nhiệm về những gì đã công bố mà không phải là Cục An toàn vệ sinh thực phẩm. Vậy quá trình kiểm nghiệm mà doanh nghiệp mất thời gian chi phí tiến hành có ý nghĩa gì?

Hy vọng rằng Nghị định mới thay thế Nghị định 38/2012 sẽ giải đáp mọi tranh cãi này. Để cập nhật những thông tin mới nhất về công bố thực phẩm Quý khách hàng xin vui lòng liên hệ đến Luật Việt Tín để những chuyên gia của chúng tôi tư vấn miễn phí tất cả các vấn đề liên quan. Chúc Quý khách thành công!

Tranh cãi từ nghị định 38, nên hay không nên công bố hợp quy?
Đánh giá bài viết